Gia đình, tài sản, thừa kế

Cho người thân vay tiền: giấy vay, lãi tối đa 20%, đòi nợ, thời hiệu

Khoản vay trong gia đình thường không có giấy, chuyển tiền mặt, và đến khi đòi thì người vay nói đó là tiền cho. Một giấy vay ghi đủ số tiền, thời hạn, lãi suất, kèm chuyển khoản có nội dung là gần như đủ để đòi. Lãi thoả thuận không quá 20% một năm; yêu cầu trả lãi chịu thời hiệu 3 năm, còn đòi tiền gốc thì thực tiễn xét xử phổ biến coi là đòi tài sản, không áp thời hiệu.

Cập nhật 15/10/2026 Khoảng 9 phút đọc Người cho người thân, bạn bè vay tiền hoặc đang đòi một khoản vay cũ.
Cho người thân vay tiền: giấy vay, lãi tối đa 20%, đòi nợ, thời hiệu
Mục lục · 10 mục
  1. Vay, góp vốn hay cho: ba quan hệ khác nhau
  2. Chị Thảo có những chứng cứ gì
  3. Lãi suất: mức trần 20% một năm
  4. Vay có kỳ hạn và không kỳ hạn
  5. Vợ hoặc chồng của người vay có phải trả không
  6. Thời hiệu: tiền gốc và tiền lãi khác nhau
  7. Đòi nợ: theo thứ tự
  8. Giấy vay nên ghi gì
  9. Khi nào nên hỏi luật sư
  10. Câu hỏi thường gặp

Năm 2023, chị Thảo cho em trai là anh Vinh vay 450 triệu đồng để mở xưởng mộc ở xã An Khánh, Hà Nội. Không có giấy tờ, chị chuyển khoản 300 triệu với nội dung "chuyen tien", đưa tiền mặt 150 triệu ở nhà mẹ. Hai chị em hẹn "làm ăn được thì trả, có lãi thì gửi chị chút ít". Đến 2026, xưởng làm ăn tốt, anh Vinh mua ô tô, nhưng khi chị Thảo hỏi tiền thì anh bảo: "tiền đó chị góp vốn với em, lỗ lãi chịu chung", vợ anh thì nói tiền đó là "chị cho em làm ăn".

Đây là kiểu tranh chấp hay gặp nhất trong gia đình: không ai gian ngay từ đầu, nhưng không có giấy nên sau này mỗi người nhớ một kiểu. Chị Thảo vẫn còn nhiều việc làm được; người sắp cho vay thì có cách để không rơi vào tình cảnh đó.

Vay, góp vốn hay cho: ba quan hệ khác nhau

Quan hệHậu quả
VayNgười vay phải trả đủ tiền khi đến hạn, có thể kèm lãi
Góp vốn, hợp tác làm ănNgười góp chia lợi nhuận và chịu lỗ theo thoả thuận; không đòi lại nguyên số như nợ
Tặng choKhông phải trả; tặng cho đã hoàn thành thì khó đòi lại

Ba quan hệ này đều bắt đầu bằng việc chuyển tiền. Tòa án xác định là quan hệ nào dựa vào chứng cứ: giấy tờ, tin nhắn, nội dung chuyển khoản, lời khai người làm chứng, cách hai bên cư xử sau đó (người vay có trả lãi định kỳ không, có nhắc "tiền chị cho em vay" trong tin nhắn không).

Theo Bộ luật Dân sự, hợp đồng vay tài sản là thoả thuận theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, đến hạn bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463). Hợp đồng vay không bắt buộc lập thành văn bản. Hợp đồng miệng vẫn có giá trị, chỉ khó chứng minh.

Chị Thảo có những chứng cứ gì

  1. Sao kê chuyển khoản 300 triệu. Chứng minh có giao tiền, nhưng nội dung "chuyen tien" không nói là vay.
  2. Tin nhắn, cuộc gọi. Nếu trong ba năm có tin nhắn anh Vinh viết "em xin khất tiền chị đến cuối năm" hay "em gửi chị 5 triệu tiền lãi", đó là chứng cứ mạnh về quan hệ vay.
  3. Người làm chứng cho 150 triệu tiền mặt: mẹ của hai chị em, người có mặt khi giao tiền.
  4. Ghi âm cuộc nói chuyện hiện tại, trong đó anh Vinh thừa nhận số tiền. Ghi âm cuộc trò chuyện mà mình tham gia, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, thường được Tòa xem xét như một nguồn chứng cứ, kèm thủ tục xác nhận nguồn gốc.

Việc nên làm ngay: gửi anh Vinh một tin nhắn hoặc văn bản liệt kê rõ "khoản 450 triệu chị cho em vay năm 2023" và đề nghị lịch trả. Một câu trả lời kiểu "em biết rồi, cho em thêm thời gian" có giá trị hơn mọi lời kể sau này. Nếu anh Vinh xác nhận nợ bằng văn bản, đó còn là căn cứ để thời hiệu với phần lãi bắt đầu tính lại.

Lãi suất: mức trần 20% một năm

  • Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định (Điều 468 khoản 1). Lãi suất vượt mức trần thì phần vượt không có hiệu lực.
  • Có thoả thuận trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất mà có tranh chấp, thì lãi suất bằng 50% mức trần, tức 10%/năm, tại thời điểm trả nợ (Điều 468 khoản 2).
  • Thoả thuận kiểu "có lãi thì gửi chút ít" như chị Thảo là thoả thuận có lãi nhưng không rõ lãi suất, rơi vào mức 10%/năm khi tranh chấp, nếu chứng minh được có thoả thuận trả lãi.
  • Vay không có lãi mà đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, bên cho vay có quyền yêu cầu lãi trên nợ chậm trả theo Điều 357 khoản 2 (mức không vượt quá trần của Điều 468 khoản 1; không thoả thuận thì theo mức của Điều 468 khoản 2), trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 466).

Ví dụ: 450 triệu đồng vay không kỳ hạn, có thoả thuận trả lãi không rõ mức, tính 10%/năm trong 3 năm là 135 triệu đồng tiền lãi. Cách tính lãi chi tiết, kể cả lãi trên nợ lãi chưa trả, được Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn.

Lưu ý: cho vay với lãi suất từ 5 lần mức trần trở lên (từ 100%/năm) mà thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng là dấu hiệu tội cho vay lãi nặng (Bộ luật Hình sự, Điều 201). "Lãi ngày" kiểu 3.000 đồng mỗi triệu mỗi ngày tương đương khoảng 109%/năm, đã vượt ngưỡng đó.

Vay có kỳ hạn và không kỳ hạn

  • Vay không kỳ hạn (như khoản của chị Thảo): bên cho vay có quyền đòi lại bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý (Điều 469). Thời điểm đòi cũng là mốc để tính quyền lợi bị xâm phạm nếu bên vay không trả.
  • Vay có kỳ hạn và không có lãi: bên vay được trả trước hạn; bên cho vay chỉ được đòi trước hạn khi bên vay đồng ý.
  • Vay có kỳ hạn và có lãi: bên vay được trả trước hạn nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ khi có thoả thuận khác (Điều 470).

Vợ hoặc chồng của người vay có phải trả không

Khoản vay do anh Vinh đứng ra vay, dùng để mở xưởng mộc, và xưởng là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình anh. Theo Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 27, 37), vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới với nghĩa vụ do một bên xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, hoặc phát sinh từ việc dùng tài sản để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Khoản vay của anh Vinh có cơ sở để được coi là nghĩa vụ chung, và tài sản chung của vợ chồng anh (kể cả chiếc ô tô) có thể dùng để trả.

Ngược lại, nếu người vay dùng tiền vào việc riêng (cờ bạc, cho người khác vay lại) thì đó là nợ riêng, người vợ hoặc chồng không phải trả bằng phần tài sản của mình.

Thời hiệu: tiền gốc và tiền lãi khác nhau

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429). Nhưng với hợp đồng vay:

  • Yêu cầu trả tiền lãi: áp dụng thời hiệu 3 năm.
  • Yêu cầu trả tiền gốc: thực tiễn xét xử và hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Công văn 443/VKSTC-V9 năm 2023) coi đây là yêu cầu đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu, không áp dụng thời hiệu theo Điều 155. Vẫn có ý kiến khác nhau, nên đừng chờ quá lâu.

Điều đó nghĩa là khoản 450 triệu gốc của chị Thảo về nguyên tắc vẫn đòi được dù đã nhiều năm; phần lãi thì chỉ đòi được trong giới hạn thời hiệu. Bạn có thể kiểm mốc thời hiệu bằng công cụ thời hiệu khởi kiện.

Đòi nợ: theo thứ tự

  1. Thương lượng có văn bản: gửi tin nhắn hoặc thư liệt kê khoản vay, đề nghị lịch trả cụ thể (ví dụ 30 triệu mỗi tháng). Ký biên bản xác nhận nợ và lịch trả nếu người vay đồng ý.
  2. Hòa giải ở cơ sở: tổ hòa giải ở khu dân cư, có sự chứng kiến của người thân. Kết quả hòa giải thành có thể yêu cầu Tòa công nhận để có giá trị thi hành.
  3. Khởi kiện: tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người vay cư trú. Án phí sơ thẩm theo giá trị yêu cầu; với 450 triệu đồng gốc và 135 triệu lãi, tổng 585 triệu, mức từ trên 400 triệu đến 800 triệu là 20 triệu đồng cộng 4% phần vượt 400 triệu, tức 27,4 triệu đồng (Nghị quyết 326/2016). Người thắng kiện không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại tiền tạm ứng.
  4. Thi hành án: bản án có hiệu lực mà người vay không tự nguyện trả thì yêu cầu thi hành án, chấp hành viên có thể kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản, thu nhập. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 5 năm theo Luật Thi hành án dân sự 2025.

Sai lầm hay gặp: tự đến nhà lấy tài sản của người vay để trừ nợ, đăng tên người vay lên mạng xã hội kèm lời lẽ xúc phạm, hoặc nhờ người "đòi nợ thuê". Những việc này có thể biến người đòi thành người vi phạm, thậm chí phạm tội, trong khi khoản nợ vẫn chưa đòi được.

Giấy vay nên ghi gì

  1. Họ tên, số căn cước, nơi cư trú của bên cho vay và bên vay; nếu vay cho việc chung của vợ chồng thì cả hai vợ chồng bên vay cùng ký.
  2. Số tiền bằng số và bằng chữ; cách giao (chuyển khoản vào tài khoản nào, tiền mặt có người làm chứng).
  3. Mục đích vay (mở xưởng, mua nhà). Mục đích giúp xác định nợ chung hay nợ riêng.
  4. Thời hạn trả, hoặc ghi rõ không kỳ hạn và thời gian báo trước khi đòi.
  5. Lãi suất (theo năm), kỳ trả lãi; hoặc ghi rõ "không lãi".
  6. Lãi chậm trả nếu đến hạn không trả.
  7. Tài sản bảo đảm nếu có (cầm cố, thế chấp phải làm đúng thủ tục).
  8. Chữ ký các bên, người làm chứng, ngày ký.

Chuyển khoản với nội dung "cho [tên] vay theo giấy vay ngày …" là một chứng cứ rất khó chối. Lưu giấy vay và sao kê vào một hồ sơ trên AI Cố Vấn, đặt mốc hạn trả để hệ nhắc trước; nếu đến hạn không trả, bạn có sẵn hồ sơ để Trợ lý AI giúp soạn thư đề nghị trả nợ và để hỏi luật sư khi cần.

Khi nào nên hỏi luật sư

  • Khoản vay lớn, không có giấy, người vay đã chối hoặc đổi thành góp vốn, cho tặng.
  • Người vay đang bán tài sản, chuyển tài sản cho người khác.
  • Có tài sản bảo đảm nhưng chưa đăng ký đúng thủ tục.
  • Khoản vay giữa các thành viên công ty, hoặc vay để mua đất đứng tên người khác.
  • Đang cân nhắc khởi kiện và cần ước tính án phí, khả năng thi hành.

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự 2015, Điều 155, 157, 357, 429, 463–471, 623 khoản 3
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 27, 30, 37
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 201 (cho vay lãi nặng)
  • Luật Thi hành án dân sự 106/2025/QH15 (hiệu lực 01/7/2026)
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí

Đối chiếu tới ngày 15/10/2026. Văn bản có thể được sửa đổi, thay thế sau ngày này.

Câu hỏi thường gặp

Cho vay không có giấy tờ có đòi được không?

Có thể, nếu chứng minh được việc giao tiền và quan hệ vay bằng sao kê, tin nhắn, ghi âm, người làm chứng. Hợp đồng vay không bắt buộc bằng văn bản. Càng sớm thu được một văn bản hoặc tin nhắn người vay xác nhận nợ, càng dễ.

Lãi suất cho vay giữa cá nhân tối đa bao nhiêu?

20% một năm theo Bộ luật Dân sự. Phần lãi vượt mức này không có hiệu lực. Cho vay từ 100% một năm trở lên mà thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng có thể bị truy cứu tội cho vay lãi nặng.

Quá 3 năm có còn kiện đòi tiền vay được không?

Với tiền gốc, thực tiễn xét xử phổ biến coi là yêu cầu đòi tài sản nên không áp dụng thời hiệu. Với tiền lãi, thời hiệu là 3 năm. Vẫn nên khởi kiện sớm vì chứng cứ và khả năng thi hành giảm dần theo thời gian.

Người vay chết thì đòi ai?

Đòi những người thừa kế của người vay, trong phạm vi di sản họ nhận. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, nên cần làm nhanh.

Có nên công chứng giấy vay không?

Không bắt buộc. Công chứng giúp chặn việc chối chữ ký và chứng minh ngày lập. Với khoản vay lớn hoặc có tài sản bảo đảm, công chứng là đáng tiền.

Đưa việc này vào hồ sơ của bạn

Lưu giấy tờ vào hồ sơ vụ việc, đặt mốc để hệ nhắc trước hạn, hỏi Trợ lý AI theo đúng hồ sơ và gửi câu hỏi cho luật sư Nhà Cố Vấn khi cần.

Bài viết là thông tin pháp luật tổng hợp để tham khảo, không phải ý kiến tư vấn cho một vụ việc cụ thể. Hoàn cảnh của bạn có thể khác ví dụ trong bài; khi có tranh chấp, sắp hết thời hạn hoặc giá trị lớn, hãy hỏi luật sư.

Cùng chuyên mục Gia đình, tài sản, thừa kế

Sang tên nhà đất 2026: các bước, thuế 2%, lệ phí 0,5%, hạn 30 ngày10 phút đọcSang tên nhà đất 2026: các bước, thuế 2%, lệ phí 0,5%, hạn 30 ngàySang tên nhà đất gồm bốn việc: công chứng hợp đồng, nộp hồ sơ đăng ký biến động trong 30 ngày, nộp thuế và lệ phí theo thông báo, nhận Giấy chứng nhận. Quyền sử dụng đất chỉ chuyển khi đã đăng ký vào sổ địa chính, nên giai đoạn từ lúc giao tiền đến lúc đăng ký xong là lúc người mua dễ mất tiền nhất.Nhờ người khác đứng tên nhà đất: rủi ro thật và cách đòi lại11 phút đọcNhờ người khác đứng tên nhà đất: rủi ro thật và cách đòi lạiNgười đứng tên trên Giấy chứng nhận là người được pháp luật coi là chủ, cho đến khi bạn chứng minh được ngược lại. Nhờ đứng tên kéo theo năm rủi ro: người đứng tên bán hoặc thế chấp, chết, ly hôn, mắc nợ bị kê biên, hoặc đơn giản là phủ nhận. Muốn đòi lại cần chứng minh nguồn tiền và thoả thuận nhờ đứng tên; Tòa án thường trả giá trị cho người bỏ tiền nhưng tính công sức cho người đứng tên.Đặt cọc mua nhà đất từ 15/10/2026: phạt cọc theo Nghị quyết 03/202610 phút đọcĐặt cọc mua nhà đất từ 15/10/2026: phạt cọc theo Nghị quyết 03/2026Bên đặt cọc từ chối giao kết thì mất cọc; bên nhận cọc từ chối thì trả lại cọc cộng một khoản bằng tiền cọc, trừ khi có thoả thuận khác. Từ 15/10/2026, Nghị quyết 03/2026 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn rõ: cọc đất chưa đứng tên vẫn có hiệu lực, phạt cọc thoả thuận không vượt giá trị hợp đồng, không phạt khi cả hai cùng có lỗi hoặc do trở ngại khách quan như chậm cấp sổ.Cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: mức, cách đổi, khi bên kia không trả10 phút đọcCấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: mức, cách đổi, khi bên kia không trảLuật không có mức cấp dưỡng cố định: các bên thoả thuận, không được thì Tòa án quyết định theo thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con. Bản án về cấp dưỡng được thi hành ngay; người cố tình không trả có thể bị cưỡng chế khấu trừ thu nhập, bị phạt hành chính, và nếu đã bị phạt mà vẫn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Ly hôn chia tài sản: nhà đứng tên một người, trả góp, công sức, nợ chung12 phút đọcLy hôn chia tài sản: nhà đứng tên một người, trả góp, công sức, nợ chungTài sản có trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên là tài sản chung, ai đứng tên không quyết định. Khi ly hôn, tài sản chung về nguyên tắc chia đôi nhưng Tòa án cộng trừ theo hoàn cảnh, công sức, lỗi và nhu cầu bảo vệ việc làm ăn của mỗi bên; người ở nhà nội trợ được tính như người có thu nhập. Nợ chung chia cùng tài sản, nhưng với chủ nợ thì vợ chồng vẫn liên đới trả.Khai nhận, phân chia di sản: niêm yết 15 ngày, người không ký, thời hiệu12 phút đọcKhai nhận, phân chia di sản: niêm yết 15 ngày, người không ký, thời hiệuMuốn sang tên di sản mà không ra Tòa, mọi người thừa kế phải cùng ký văn bản thoả thuận phân chia hoặc khai nhận di sản tại tổ chức hành nghề công chứng, sau 15 ngày niêm yết ở Uỷ ban nhân dân cấp xã. Chỉ cần một người không ký là phải khởi kiện. Thời hiệu yêu cầu chia là 30 năm với nhà đất, 10 năm với động sản, tính từ ngày người để lại di sản mất.